Kết luận

Dòng cổ điển (dòng LFS) chia ba mức: LFS-60 phủ 5–58 mm, LFS-100 phủ 5–98 mm, LFS-150 phủ 5–148 mm, cả ba mức chiều dài nhãn đều là L2–40 mm, số cột 1–12. Loại máy này lắp trên máy dán nhãn tùy chỉnh, đồ gá phi tiêu chuẩn và trạm bóc nhãn độc lập, không vào trạm liệu của máy dán chip.

Chọn mức chỉ nhìn một số: chiều rộng nhãn trần. Chiều rộng vượt quá giới hạn trên của mức đã chọn thì đổi model, không giải quyết bằng chỉnh thông số.

Ba mức mỗi mức phủ đến bao rộng

Ranh giới giữa các mức là 58, 98, 148 mm. Nhãn trong 58 mm dùng LFS-60, vượt quá thì đến LFS-100; trên 98 mm đến 148 mm dùng LFS-150. Phạm vi chiều dài của ba mức giống nhau, đều là L2–40 mm, nên đổi mức chủ yếu nhìn chiều rộng.

Một máy cấp chạy được mọi kích thước vật liệu trong mức của mình, hỗ trợ cả một hàng và nhiều cột, số cột đến 12. Một tấm bảng dán mấy nhãn, mỗi ca đổi liệu mấy lần quyết định có cần lên nhiều cột hay không: một cột đủ dùng thì đừng thêm cột, thêm cột thì thể tích thân máy và hạng mục căn chỉnh cũng tăng theo.

Đo chiều rộng là đo bản thân nhãn, không tính phần lề hai bên giấy đế. Nhãn bo góc, đường viền dị hình báo số theo hình chữ nhật ngoại tiếp. Chiều dài cũng theo chiều dài thực tế của nhãn, không phải bước liệu của băng liệu.

Vị trí lắp: chiều rộng thân máy theo mức nhãn

Chiều dài và chiều cao thân máy của ba mức không đổi, chỉ chiều rộng nới theo mức nhãn, trọng lượng cũng tăng theo. Khi bố trí vị trí lắp thì chừa chỗ theo chiều rộng thực tế của thân máy, đừng chừa theo chiều rộng nhãn — thân máy rộng hơn nhãn khá nhiều.

Loại máy này phần lớn lắp trên mặt bàn đồ gá hoặc trạm độc lập, phía trước phải chừa chỗ tay để xỏ liệu và quan sát, phía trên phải chừa không gian cho đường kính ngoài cuộn liệu, khi thay cuộn liệu người phải với tới được. Trọng lượng toàn máy thì đối chiếu bảng tên để kiểm tra khả năng chịu lực của mặt bàn và đồ kẹp, đừng kiểm tra theo trạng thái không có liệu.

Kết cấu xỏ liệu khác với bản chuyên dụng cho máy dán chip

Xỏ liệu của dòng cổ điển nhờ con trượt bàn ra liệu và cần gạt kẹp liệu: gạt con trượt bàn ra liệu ra ngoài, chừa khe xỏ liệu; cuộn liệu kẹp giữa trục bị động và trục chủ động, cần gạt kẹp liệu gạt vào để kẹp chặt. Bản màn hình dùng nắp ép liệu, gạt cần xuống để mở, cuộn liệu kẹp giữa nắp ép liệu và trục chủ động rồi ấn xuống để ép chặt. Hai bộ kết cấu động tác khác nhau, khi hướng dẫn nhân viên thay liệu đừng giảng lẫn.

Vị trí khối dẫn hướng chỉnh theo chiều rộng cuộn liệu: dùng cờ lê lục giác mở vít trên mặt, dời con trượt giới hạn chiều rộng đến vị trí thích hợp rồi siết lại. Chiều cao miếng ép chỉnh theo độ dày nhãn, bốn vít chìm siết lỏng chặt là được. Cuộn liệu lắp lên bạc trục lắp đặt, phải dùng vòng chặn giới hạn, phòng khi chạy liệu bị đảo qua lại.

Hai chi tiết. Góc băng liệu phải thẳng, đi xiên sẽ lệch ở mép dao bóc; nhãn nhỏ khó bóc thì đổi lưỡi dao bóc sang mặt có góc nhỏ hơn để dùng. Nhãn lớn hoặc nhãn dễ rơi, có thể không đi qua trục quấn lò xo, tránh góc lớn bóc sớm.

Chỉnh thông số ở mấy mục nào

Mục chỉnh được trên màn hình hiển thị có năm chỗ, thứ tự chỉnh có phụ thuộc:

Đặt giá trị làm việc sợi quang, lấy khoảng « giá trị đọc trạng thái không liệu + 200 », có liệu thì đèn sáng, thấp hơn giá trị cảm biến thì báo không liệu. Sau đó chỉnh vị trí cấp liệu, quản lý khoảng cách cấp liệu: nhãn hếch lên hoặc cấp quá là thiên lớn, cấp không tới thì tăng lên. Rồi chỉnh tốc độ cấp liệu, phạm vi sách hướng dẫn dòng cổ điển đưa là 5–50, khi không đuổi tốc độ dán chip thì đặt thấp hơn, cấp liệu ổn hơn. Sau khi động vào tốc độ, vị trí cấp liệu phải tinh chỉnh theo một lần. Đơn vị trễ cấp liệu 0.1 s, khi tay máy hạ nguồn lấy liệu chậm, cấp nhãn nhanh thì tăng trễ. Báo không liệu còn có một khoảng cách chạy không, sau khi cuộn liệu không còn nhãn thì chạy không bao xa để báo không liệu, đặt theo nhịp hiện trường.

Đảo chiều trục nhả liệu là hạng mục tùy chọn, máy đã lắp thì đổi được hướng trong menu.

Khi nào dùng nó, khi nào dùng bản chuyên dụng cho nền tảng

Trạm liệu máy dán chip lắp bản chuyên dụng cho nền tảng, phân theo thương hiệu máy: nền tảng Siemens D dùng dòng LFSID, nền tảng X dùng dòng LFSIX, Fuji, JUKI, Panasonic, Yamaha, Samsung mỗi hãng có model tương ứng. Máy dán nhãn tùy chỉnh, trạm bóc nhãn phi tiêu chuẩn, trường hợp dựng riêng một bộ trên bàn thì dùng dòng cổ điển phù hợp hơn, kết cấu đơn giản, vị trí lắp tự do. Cần màn hình hướng lên, vừa nhìn vừa chỉnh thì dùng bản màn hình.

Phân theo cách bóc, các kết cấu phù hợp với loại nhãn nào đã nói riêng trong cách chọn kết cấu máy cấp nhãn; đối chiếu model cụ thể với mức xem ở dòng sản phẩm máy cấp nhãn.

Bốn số báo cho nhà máy

Chiều rộng và chiều dài nhãn trần (theo hình chữ nhật ngoại tiếp), có cần nhiều cột không, lắp vào thiết bị nào (model máy dán chip, đồ gá hay trạm độc lập), đường kính trong đường kính ngoài cuộn liệu và số nhãn mỗi cuộn. Bốn số đưa đủ, một vòng là định được mức. Đường xỏ liệu và thông số còn lại sẽ được chỉnh theo mẫu của khách trước khi xuất hàng, đến nơi cắm điện là chạy, hướng không đúng thì tinh chỉnh theo sách hướng dẫn.